1. Nguy cơ bệnh lao với phụ nữ mang thai

Thật không may là phụ nữ mang thai lại dễ bị mắc lao hơn so với các lứa tuổi khác và nam giới là do rất nhiều yếu tố, trong đó đáng kể nhất là sự thay đổi các nội tiết tố oestrogen, progesteron và sự xuất hiện nội tiết tố rau thai. Hai yếu tố này làm cho các cơ quan phục vụ cho quá trình mang thai, sinh đẻ và nuôi con như hệ sinh dục, vùng chậu hông, da, cơ tăng cường chuyển hóa các chất, ngấm nhiều nước hơn. Điều này cũng kéo theo cả tổ chức phổi – những tổ chức xơ sẹo trở nên mềm hơn, làm cho vi khuẩn lao dễ dàng hoạt động hơn.

Ngoài ra khi mang thai, cơ thể người mẹ giảm miễn dịch tự nhiên để chấp nhận một cơ thể lạ mà một nửa là của người khác; do ăn uống không đủ chất; mất sức và mệt mỏi trong mang thai, sinh đẻ và lúc nuôi con… cũng là một trong nhiều nguyên nhân khiến họ dễ nhiễm lao hơn bất kỳ đối tượng nào.

Điều nguy hiểm là, bệnh lao không chỉ khiến cho cơ thể người mẹ bị tàn phá, mà còn ảnh hưởng nghiêm trọng đến thai nhi. Khi người mẹ mắc bệnh thì những đứa con cũng dễ dàng bị lây bệnh, thậm chí lây ngay từ khi còn là bào thai, đó là lao bẩm sinh, việc điều trị sẽ rất khó khăn.

2. Các biến chứng khi mang thai

Sảy thai và thai chết lưu: Tỷ lệ tử vong do lao ở trẻ sơ sinh lên tới 18.7% khi bà mẹ được chẩn đoán và điều trị lao trong thai kỳ. Tỷ lệ này tăng lân gấp đối nếu sinh non, sinh nhẹ cân từ bà mẹ có bệnh lao. Tuy nhiên, nếu được điều trị sớm sẽ ít có biến chứng hơn.

Kết quả hình ảnh cho lao mang thai

Trẻ sinh ra bởi bà mẹ có lao có thể bị lao bẩm sinh, tuy rất hiếm gặp. Bệnh sẽ trở nên rõ ràng hơn 2-3 tuần sau sinh. Bé có thể bị sốt, suy hô hấp và gan to. Trẻ sơ sinh có thể vật vã, li bì hoặc hôn mê.

Phụ nữ được chẩn đoán lao ở cuối thai kỳ tỷ lệ tử vong tăng lên tới 4 lần và tỷ lệ nhiễm độc thai nghén cũng tăng lên. Tuy nhiên, bệnh lao hoàn toàn có thể chữa khỏi nếu đi khám và điều trị đúng từ 4-9 tháng.

Thông thường, các bác sĩ thường khuyên bệnh nhân nữ nên tránh có thai khi đang điều trị lao để việc điều trị có hiệu quả tốt hơn và quan trọng hơn là tránh ảnh hưởng đến mẹ và thai nhi. Bởi vì, lúc này sức đề kháng của bệnh nhân đã có phần suy giảm, tác dụng phụ ít nhiều của thuốc điều trị cũng ảnh hưởng đến sức khỏe của bà mẹ, việc san sẻ thêm sức khỏe và dinh dưỡng cho thai nhi là điều không hề tốt cho cả mẹ lẫn con.

3. Điều trị bệnh lao ở thai phụ

Tuy nhiên, khi đã mắc bệnh lao trong thai kỳ, thai phụ cần thực hiện ngay theo hướng dẫn sau đây để hạn chế đến mức thấp nhất khả năng ảnh hưởng đến con:

Điều trị lao bao giờ cũng có một phác đồ điều trị riêng và nghiêm ngặt. Vì vậy, thai phụ cần dùng thuốc điều trị bệnh lao theo đúng hướng dẫn của bác sĩ. Thuốc được chọn lựa đầu tiên INH, rifampicin và andethambutol, thuốc được sử dụng hằng ngày trong vòng 2 tháng hoặc có thể sử dụng INH và rifampicin 2 lần trong một tuần trong cả thời kỳ mang thai. Không nên sử dụng streptomycin và PZA, vì những thuốc này có những ảnh hưởng xấu đến thai nhi.

Thai phụ cần thực hiện chế độ nghỉ ngơi thích hợp để giảm sự hô hấp, có lợi cho phục hồi vùng bụng. Đặc biệt cần tăng cường cung cấp dinh dưỡng để nâng cao thể trạng và tăng cường sức khỏe cho cả mẹ lẫn con. Thực phẩm phải có đủ lượng calo, giàu protein, vitamin và khoáng chất. Thai phụ cũng nên hỏi ý kiến bác sĩ về việc uống viên canxi và dầu cá, chúng sẽ tốt hơn cho sự phục hồi vùng nhiễm bệnh của phổi.

Con của người mẹ mắc lao phải được theo dõi cẩn thận để phát hiện lao bẩm sinh và phải được tiêm BCG sớm để phòng bệnh lao sơ nhiễm.

Kết quả chữa bệnh lao ở phụ nữ có thai cũng tốt như ở những bệnh nhân lao khác. Điều quan trọng là cần đến các cơ sở y tế để phát hiện sớm và điều trị kịp thời và thực hiện nghiêm ngặt phác đồ điều trị. Thai phụ chú ý không bỏ dở điều trị vì như vậy, không những không tốt hơn cho thai nhi, mà vi trùng lao kháng thuốc sẽ có nguy hại hơn cho cả mẹ và con.

BÌNH LUẬN

Nhập bình luận của bạn
Vui lòng nhập tên của bạn ở đây