1. Trước khi thụ thai

Sàng lọc di truyền

Xét nghiệm sàng lọc di truyền được thực hiện trước khi bắt đầu mang thai, nhưng nó cũng có thể được thực hiện tại các lần khám tiền sản đầu tiên khoảng 8 tuần trở đi. Sàng lọc di truyền được thực hiện để phát hiện xem cha mẹ có mắc một số rối loạn di truyền nghiêm trọng hay không. Dù họ không mắc bệnh nhưng có thể mang một loại gen bệnh lây truyền cho con cái.

Các sàng lọc được thực hiện thông qua xét nghiệm gen của cả cha và mẹ. Ngoài ra, nó cũng dựa trên lịch sử bệnh tật của cha mẹ và gia đình hai bên nội-ngoại .

Kiểm tra miễn dịch Rubella, viêm gan B.

Thông thường, Rubella, viêm gan B được tiêm chủng phòng ngừa khi bạn còn bé. Tuy nhiên, nếu chưa tiêm, virus rubella sẽ ảnh hưởng đến sự phát triển bào thai, có thể gây dị tật bẩm sinh như điếc, đục thủy tinh thể và các khuyết tật tim bẩm sinh, đặc biệt trong 3 tháng đầu thai kỳ. Cũng như có thể nhiễm virus viêm gan B khi mang thai làm cho thai nhi mắc phải viêm gan bẩm sinh

Phụ nữ cần làm xét nghiệm trước khi thụ thai và có thể chủng ngừa sau đó, không nên tiêm ngừa khi mang thai. Lưu ý bạn không nên mang thai trong 3 tháng sau khi tiêm ngừa.

2. Trong khi mang thai

Xét nghiệm máu:

Việc xét nghiệm máu khi mang thai 3 tháng đầu có ý nghĩa rất quan trọng với sức khỏe mẹ bầu và phát triển của thai nhi.

Công thức máu:

Một trong những xét nghiệm quan trọng trong thai kỳ chính là công thức máu (CTM). Có 3 chỉ số quan trọng được tìm thấy trong kết quả thử nghiệm đó là hemoglobin, hematocrit và số lượng tiểu cầu của thai phụ.

Hemoglobin là một loại protein trong máu cung cấp oxy cho các tế bào, hematocrit là dung tích hồng cầu trong cơ thể. Nếu hemoglobin hoặc hematocrit thấp là dấu hiệu mẹ bầu đang thiếu máu, thiếu sắt, cản trở sự phát triển của thai nhi. Cơ thể phụ nữ mang thai cần lượng sắt tăng gấp đôi người bình thường để mang oxy vào hồng cầu.

Xét nghiệm miễn dịch:

Ngoài việc kiểm tra các thành phần tế bào của máu, xét nghiệm máu cũng giúp phát hiện xem thai phụ có bị các bệnh lây truyền qua đường tình dục (STDs) như HIV/AIDS, giang mai, herpes, viêm gan B, C,..hay có nhiễm các virus Toxoplasma gondii, Rubella, Cytomegalovirus (CMV), Herpes simplex virus (HSV) hay không.

9 xet nghiem quan trong trong thai ky me bau can biet hinh anh 1
Có nhiều xét nghiệm quan trọng trong thai kỳ mẹ bầu cần phải biết để kiểm tra và phòng ngừa những dấu hiệu bất thường cho thai nhi. Ảnh: Americanpregnancy.

Xét nghiệm dung nạp glucose

Phụ nữ mang thai nên xét nghiệm dung nạp glucose và tiểu đường thai kỳ giữa tuần 25 và 28. Những thai phụ có lượng glucose cao sau các xét nghiệm sàng lọc sẽ được thử nghiệm dung nạp glucose.

Đo nồng độ glucose có trong máu ở các thời điểm trước, trong và sau khi uống 75g glucose. Các mẹ bầu có kết quả dương tính, có lượng đường trong máu cao có thể gây biến chứng cho thai nhi như dị tật bẩm sinh, thai chết lưu không rõ nguyên nhân, sảy thai và nhiều biến chứng nguy hiểm khác cho trẻ sơ sinh. Bên cạnh đó, các mẹ bầu sẽ phải đối diện với các nguy cơ thai to, tiền sản giật.

Các xét sàng lọc dị tật bẩm sinh:

Xét nghiệm Double test

Xét nghiệm Double test sẽ tìm ra nguy cơ của 3 nhóm là hội chứng Down, Edwards, Patau (tam bội NST 21,18,13). Xét nghiệm sẽ được bác sĩ thực hiện bằng cách lấy máu mẹ, từ đó kết hợp các chỉ số sinh hóa máu với chỉ số độ mờ da gáy khi siêu âm để tính ra nguy cơ bệnh của thai.

Thông thường, các mẹ bầu sẽ được chỉ định xét nghiệm Double test ở quí I của thai kỳ. Nếu xét nghiệm chỉ ra thai nhi có nguy cơ dị tật bẩm sinh cao thì sẽ phải tiến hành chuẩn đoán xác định bằng sinh thiết nhung mao màng đệm nhau thai. Nếu kết quả chỉ ở mức có nguy cơ dị tật bẩm sinh ở mức ranh giới, thì mẹ bầu cần tiếp tục thực hiện Triple test ở quý II thai kỳ để đánh giá mức độ nguy cơ chính xác hơn.

Xét nghiệm Triple test

Triple test là xét nghiệm sàng lọc sử dụng máu của mẹ để tìm hiểu nguy cơ một số rối loạn bẩm sinh ở thai nhi. Triple test còn được gọi là bộ 3 xét nghiệm bởi vì chúng cho biết 3 chỉ số hCG, AFP và estriol, từ đó có thể tính được nguy cơ khuyết tật của thai.

Kết quả hình ảnh cho Triple test là xét nghiệm sàng lọc sử dụng máu của mẹ để tìm hiểu nguy cơ một số rối loạn bẩm sinh ở thai nhi. Ảnh internet.
Triple test là xét nghiệm sàng lọc sử dụng máu của mẹ để tìm hiểu nguy cơ một số rối loạn bẩm sinh ở thai nhi. Ảnh internet.

Xét nghiệm thường được bác sĩ chỉ định thực hiện từ tuần thứ 16 – 20 của thai kỳ, bằng cách phân tích mẫu máu của mẹ kết hợp với các yếu tố như tuổi tác, cân nặng, chứng tiểu đường hoặc những bất thường về gene của người mẹ.

Khi xét nghiệm Double test và Triple test chỉ ra nguy cơ thai nhi bị dị tật cao thì sẽ tiến hành thực hiện NIPT hoặc chọc ối. Việc làm NIPT hoặc chọc ối để xét nghiệm nhiễm sắc thể có thể biết chính xác thai có bị bất thường hay không.

Xét nghiệm NIPT (Non-Invasive Prenatal Test)

Hiện là phương pháp xét nghiệm sàng lọc trước sinh tiên tiến nhất trên thế giới, phân tích các ADN tự do của thai nhi tan trong máu mẹ bằng công nghệ giải trình tự Gen, từ đó phát hiện các bất thường NST ở thời điểm rất sớm với độ chính xác rất cao (trên 99%). Bởi vì chỉ lấy máu mẹ, KHÔNG CẦN CHỌC ỐI nên NIPT tuyệt đối an toàn cho mẹ và thai nhi.

Hình ảnh có liên quan

Tầm soát thông thường (Double test, Triple test, Siêu âm) bỏ sót 20% số trường hợp bị bất thường NST. NIPT phát hiện gần như toàn bộ (trên 99%) các trường hợp khi có bất thường NST. NIPT chính xác hơn trong tầm soát ban đầu.

Xét nghiệm có thể bắt đầu từ tuần thứ 9-34 của thai kì.

Kết quả hình ảnh cho Xét nghiệm NIPT

Xét nghiệm nước tiểu

Phụ nữ mang thai thường đi tiểu nhiều hơn so với trước khi có thai. Bởi vậy, việc xét nghiệm nước tiểu nên được tiến hành định kỳ trong thai kỳ. Nó giúp phát hiện các dấu hiệu bệnh tiểu đường trong thai kỳ như dư lượng glucose trong nước tiểu. Bệnh có thể ảnh hưởng đến sức khỏe của cả mẹ và thai nhi, nhưng có thể điều chỉnh bằng chế độ dinh dưỡng, vận động thích hợp.

Dư đạm trong nước tiểu có thể là dấu hiệu bị nhiễm trùng, đặc biệt nếu kèm theo các triệu chứng phù hoặc cao huyết áp, mẹ bầu có nguy cơ tiền sản giật cao.

Kết quả hình ảnh cho tổng phân tích nước tiểu
Tổng phân tích nước tiểu. Ảnh minh họa

(Tổng hợp)

BÌNH LUẬN

Nhập bình luận của bạn
Vui lòng nhập tên của bạn ở đây